Nhiễm khuẩn huyết là gì, có nguy hiểm không?

Nhiễm khuẩn huyết chính là tập hợp những biểu hiện lâm sàng của một tình trạng nhiễm trùng – nhiễm độc toàn thân nặng, có nguy cơ tử vong nhanh do choáng (shock) và suy cơ quan, gây ra bởi sự xâm nhập liên tục của Vi khuẩn và các độc tố của chúng vào máu xuất phát từ một ổ nhiễm khuẩn khởi điểm. Vi khuẩn bất kể độc tính mạnh hay yếu đều có thể gây Nhiễm khuẩn huyết khi...

Nhiễm khuẩn huyết chính là tập hợp những biểu hiện lâm sàng của một tình trạng nhiễm trùng – nhiễm độc toàn thân nặng, có nguy cơ tử vong nhanh do choáng (shock) và suy cơ quan, gây ra bởi sự xâm nhập liên tục của Vi khuẩn và các độc tố của chúng vào máu xuất phát từ một ổ nhiễm khuẩn khởi điểm. Vi khuẩn bất kể độc tính mạnh hay yếu đều có thể gây Nhiễm khuẩn huyết khi sức đề kháng của cơ thể giảm.

Nguyên nhân bệnh Nhiễm khuẩn huyết

Buyedtablets247: dinh dưỡng, sức khỏe, mẹ và bé online

Căn nguyên thường có 3 loại:

Các vi khuẩn Gr (+): Tụ cầu, phế cầu, liên cầu.

Vi khuẩn Gr (-):

Não mô cầu.

Các trực khuẩn Gr (-) đường ruột: E.coli , Klesbsiella pneumoniae, Proteus, Enterobacter v.v…

Trực khuẩn mủ xanh: Pseudomonas aeruginosa.

Các vi khuẩn kỵ khí : hầu như đi cùng Gr (-), Bacteroid fragilis, Clostridium perfringens v.v…

Related image

Phòng ngừa bệnh Nhiễm khuẩn huyết

Nhiễm trùng máu xảy ra ở cả người lớn và trẻ nhỏ, đặc biệt nghiêm trọng đối với trẻ sơ sinh. Vì vậy, mỗi bà mẹ cần nâng cao kiến thức về chăm sóc thai nghén, khám thai định kỳ để đảm bảo thai phát triển tốt và không có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Trong quá trình chăm sóc cần rửa tay thật sạch và tránh các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn cho trẻ.

Đối với người lớn, cần tránh sử dụng bừa bãi thuốc kháng sinh khi không có chỉ dẫn của bác sĩ. Khi bị bệnh, việc điều trị tích cực các trường hợp nhiễm Gram âm và chăm sóc tốt có thể giúp bệnh nhân hồi phục nhanh và tránh được nguy cơ tử vong.

Image result for nhiễm khuẩn huyết

Điều trị bệnh Nhiễm khuẩn huyết

Điều trị đặc hiệu: Bằng kháng sinh:

Nguyên tắc điều trị kháng sinh trong nhiễm khuẩn huyết:

Phải điều trị sớm, dùng kháng sinh ngay sau khi lấy máu gửi đi nuôi cấy.

Phải dùng kháng sinh liều cao, phối hợp và đủ thời gian.

Phải dùng kháng sinh đường tĩnh mạch.

Phỏng đoán vi khuẩn trước khi có kết quả cấy máu.

Điều chỉnh kháng sinh theo hiệu quả điều trị và kháng sinh đồ.

Ngừng kháng sinh: khi hết sốt, triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt, nuôi cấy vi khuẩn âm tính, tốc độ máu lắng trở về bình thường.

Không dùng Corticoid.

Điều trị cụ thể: Bằng thuốc điều trị:

Khi chưa có kết quả cấy máu, điều trị kháng sinh theo phỏng đoán mầm bệnh.

Khi có kết quả cấy máu thì điều chỉnh kháng sinh theo kết quả lâm sàng và kháng sinh đồ.

Theo dõi để đánh giá hiệu quả điều trị:

Theo dõi nhiệt độ, tình trạng toàn thân, các ổ di bệnh.

Cần cấy máu khi cần thiết.

Làm các xét nghiệm máu, X-quang, siêu âm để kiểm tra.

Điều trị hỗ trợ và hồi sức

Đặc biệt chú ý phòng và chống sốc nhiễm khuẩn. Đảm bảo khối lượng tuần hoàn. Dùng các thuốc vận mạch khi cần thiết (Dopamin, Dobutrex, Noadrenalin).

Cần đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm để đo CVP.

Đảm bảo hô hấp: Thở oxy, đặt nội khí quản và thông khí nhân tạo khi cần thiết.

Điều chỉnh cân bằng nước điện giải, thăng bằng kiềm toan.

Chống suy thận cấp: Truyền đủ dịch, lợi tiểu bằng NaHCO3, chạy thận nhân tạo nếu cần.

Điều trị xuất huyết và đông máu nội mạc rải rác nếu có.

Hạ nhiệt: Chườm đá, Paracetamol.

Dinh dưỡng nâng cao thể trạng.

Chăm sóc vệ sinh chống loét.

Dẫn lưu các ổ mủ.

Giải quyết các ổ nhiễm trùng tiên phát

Nạo hút rau còn sót trong tử cung.

Dẫn lưu nếu còn viêm tắc ở đường mật, đường tiết niệu.

Rút ống Sonde tiểu, Catheter tĩnh mạch.

Dẫn lưu ổ mủ.

từ khóa

  • chăm sóc bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
  • kế hoạch chăm sóc bệnh nhân truyền nhiễm
  • lập kế hoạch chăm sóc bệnh nhân sốt siêu vi
  • nhiễm khuẩn huyết tụ cầu vàng
Có thể bạn quan tâm